Sau hơn một thập kỷ triển khai, Luật Phòng, chống thiên tai đã góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai. Trên cơ sở luật, nhiều chiến lược, chương trình, đề án lớn về phòng, chống thiên tai đã được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và Chính phủ ban hành, tạo nền tảng pháp lý cho công tác quản lý rủi ro thiên tai.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp chủ trì Hội nghị tham vấn chính sách Luật Phòng, chống thiên tai. Ảnh: Trung Hiếu.
Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cũng cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc phát sinh, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện thể chế để đáp ứng yêu cầu mới.
Nhiều bất cập về tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp
Góp ý tại Hội nghị, ông Nguyễn Duy Tiến, Vụ trưởng Vụ Pháp luật và Tư pháp thuộc Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội, cho rằng cơ quan soạn thảo cần làm rõ nguyên nhân của những bất cập đang tồn tại trong công tác phòng, chống thiên tai. Theo ông, cần phân biệt rõ đâu là những vướng mắc xuất phát từ quy định pháp luật và đâu là những khó khăn phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện để có giải pháp phù hợp.
Ông Nguyễn Duy Tiến cũng lưu ý việc sửa đổi Luật Phòng, chống thiên tai phải bảo đảm tính thống nhất với các luật có liên quan như Luật Quốc phòng, Luật Phòng thủ dân sự và các quy định về tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền.

Ông Nguyễn Duy Tiến cho rằng cần làm rõ nguyên nhân của những bất cập đang tồn tại trong công tác phòng, chống thiên tai. Ảnh: Trung Hiếu.
Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ, cho biết quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy thời gian qua đã phát sinh một số khó khăn trong công tác chỉ đạo, điều hành và tổng hợp thông tin thiên tai.
Theo ông Tuấn, trước đây hệ thống phòng, chống thiên tai của ngành nông nghiệp có bộ máy chuyên trách, duy trì trực ban 24/24 giờ và hệ thống báo cáo thống nhất từ cơ sở lên tỉnh. Sau khi thay đổi mô hình tổ chức, tại một số địa phương đã xuất hiện tình trạng phải duy trì nhiều kênh báo cáo song song để bảo đảm thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
Ông Tuấn cho rằng cơ quan chuyên môn ngành nông nghiệp vẫn là lực lượng trực tiếp nắm tình hình thiên tai, đánh giá thiệt hại và tham mưu các giải pháp khắc phục hậu quả. Vì vậy, cần nghiên cứu cơ chế phù hợp nhằm phát huy tốt hơn vai trò của lực lượng chuyên môn trong công tác phòng, chống thiên tai.

Theo TS. Bùi Nguyên Hồng, việc hoàn thiện luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quản lý chuyên môn và chỉ huy điều hành thống nhất. Ảnh: Trung Hiếu.
Cùng quan điểm, TS. Bùi Nguyên Hồng, nguyên Phó Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống lụt bão, cho rằng việc hoàn thiện luật cần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quản lý chuyên môn và chỉ huy điều hành thống nhất.
“Lực lượng quân đội tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong cứu hộ, cứu nạn và ứng phó khẩn cấp, trong khi các nhiệm vụ mang tính kỹ thuật chuyên sâu như quản lý đê điều, hồ chứa hay công trình phòng, chống thiên tai cần có sự tham gia trực tiếp của các cơ quan chuyên môn”, TS. Bùi Nguyên Hồng nhận định.
Cần thống nhất đầu mối báo cáo và bảo đảm yêu cầu phòng, chống thiên tai trong quy hoạch
Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến thảo luận là việc phân định thẩm quyền, thống kê thiệt hại và tổ chức thực hiện các hoạt động khắc phục hậu quả thiên tai.
Ông Phạm Đức Luận, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng thực tiễn hiện nay cho thấy cơ chế phối hợp giữa các cơ quan còn tồn tại những điểm chưa đồng bộ, đặc biệt trong công tác tổng hợp số liệu thiệt hại và tham mưu hỗ trợ khắc phục hậu quả.
Theo ông Luận, nếu không xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm tổng hợp thông tin sẽ dễ dẫn tới tình trạng số liệu không thống nhất, ảnh hưởng đến quá trình chỉ đạo, điều hành cũng như việc hỗ trợ người dân sau thiên tai.

Ông Phạm Đức Luận chia sẻ tại Hội nghị. Ảnh: Trung Hiếu.
Liên quan đến chính sách tiếp nhận hỗ trợ quốc tế, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai cho biết trong những năm qua, thông qua cơ chế đối tác phòng, chống thiên tai, Việt Nam đã huy động được nguồn lực đáng kể từ các tổ chức quốc tế. Các nguồn hỗ trợ được triển khai nhanh chóng, minh bạch và đến trực tiếp với người dân bị ảnh hưởng. Vì vậy, dự thảo luật cần quy định rõ thẩm quyền vận động, tiếp nhận và phân phối nguồn hỗ trợ nhằm tránh chồng chéo với các quy định pháp luật hiện hành.
Đối với đề xuất chuyển từ yêu cầu “lồng ghép” sang “bảo đảm” nội dung phòng, chống thiên tai trong quy hoạch và các dự án phát triển, ông Luận cho rằng đây là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh nhiều công trình hạ tầng thời gian qua đã vô tình làm gia tăng nguy cơ ngập úng và rủi ro thiên tai.
“Quy định mới không làm phát sinh thủ tục hành chính mà chỉ yêu cầu các cơ quan lập, thẩm định và phê duyệt dự án phải tính toán đầy đủ các yếu tố rủi ro thiên tai ngay từ khâu thiết kế và quy hoạch”, ông Phạm Đức Luận nhấn mạnh.
Đại tá Phạm Hùng, Phó Trưởng phòng Phòng, chống thiên tai, Cục Cứu hộ - Cứu nạn (Bộ Quốc phòng), đề nghị dự thảo luật quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan trong tổng hợp thiệt hại, xác định nhu cầu hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai và tiếp nhận hỗ trợ quốc tế để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng. |
Cần những chính sách mạnh mẽ và đột phá hơn
Kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng hồ sơ đề xuất xây dựng Luật Phòng, chống thiên tai vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện cả về cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và đặc biệt là cơ sở thực tiễn.

Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng cần xây dựng những chính sách đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, bảo vệ tốt hơn tính mạng và tài sản của người dân. Ảnh: Trung Hiếu.
Theo Thứ trưởng, đây là đạo luật có tính chất tổng hợp, tác động đến nhiều lĩnh vực và liên quan chặt chẽ với hàng loạt luật khác như quy hoạch, xây dựng, tài nguyên nước, nông nghiệp và quản lý tài sản công. Vì vậy, quá trình sửa đổi phải rà soát kỹ lưỡng để tránh chồng chéo hoặc bỏ sót các quy định liên quan.
“Thực tiễn những năm gần đây, đặc biệt trong giai đoạn 2024 - 2025, đã xuất hiện nhiều hiện tượng thiên tai cực đoan, bất thường và khó dự báo hơn trước. Nhiều vấn đề mới phát sinh trong quá trình phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai cần được nghiên cứu và phản ánh đầy đủ trong hồ sơ chính sách”, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường lưu ý.
Đánh giá các nhóm chính sách đang đề xuất còn thiếu tính đột phá, Thứ trưởng đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục hoàn thiện theo hướng mạnh mẽ hơn. Trong đó, cần tập trung vào 4 nhóm chính sách lớn gồm: tổ chức bộ máy và phân định thẩm quyền; khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu lớn; dự báo, cảnh báo và ứng dụng công nghệ trong quản lý rủi ro thiên tai; phát triển hạ tầng chống chịu thiên tai và nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng.

Nhiều vấn đề mới phát sinh trong quá trình phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai cần được nghiên cứu và phản ánh đầy đủ trong hồ sơ chính sách. Ảnh: Bá Duy.
Thứ trưởng cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn công tác phòng, chống thiên tai với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ổn định dân cư và xây dựng các công trình công cộng đủ khả năng trở thành nơi tránh trú an toàn cho người dân khi xảy ra thiên tai.
“Cần xây dựng được những chính sách đủ mạnh, đủ sức thuyết phục để giải quyết các vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Mục tiêu cuối cùng là giảm thiểu thiệt hại do thiên tai, bảo vệ tốt hơn tính mạng và tài sản của người dân”, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh.
PGS.TS Nguyễn Cảnh Thái, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, đề nghị bổ sung các quy định về chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu phục vụ chuyển đổi số trong phòng, chống thiên tai. Theo ông, việc tiếp cận và chia sẻ dữ liệu hiện còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu, dự báo, cảnh báo và xây dựng phương án ứng phó. Cơ chế chia sẻ dữ liệu hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, đồng thời tạo điều kiện cho các cơ sở nghiên cứu, trường đại học và đơn vị chuyên môn tham gia sâu hơn vào công tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai. Bên cạnh đó, trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ cơ sở và xây dựng cơ chế phối hợp liên vùng đối với các loại hình thiên tai có phạm vi ảnh hưởng rộng như lũ lụt trên các lưu vực sông. |